Thứ Ba, 13 tháng 8, 2024

ORCHID - PHONG LAN

 

ORCHID

(PHONG LAN)




    Được gọi là nữ hoàng của thú chơi hoa tao nhã, Orchid đã hiện diện trên trái đất từ ngàn xưa.

    Cái tên Orchid bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ‘Orkhis’, nghĩa là tinh hoàn, do nó giống với hình dạng của củ lan. Cũng vì vậy, đối với người Hy Lạp cổ đại, Orchid là biểu tượng của khả năng sinh sản và sức mạnh nam giới. Người Hy Lạp tin rằng nếu ăn củ một số loài Orchid nhất định có thể tăng ham muốn và khả năng sinh sản của nam giới. Họ cũng tin rằng ăn củ của Orchid có thể giúp định đoạt giới tính của thai nhi. Đàn ông sẽ ăn củ lớn nếu muốn sinh con trai, phụ nữ sẽ ăn củ nhỏ nếu muốn sinh con gái.

    Trong mỗi nền văn hóa, Orchid có một ý nghĩa khác nhau. Nền văn hóa Trung Hoa xem Orchid như một biểu tượng của học vấn cao quý. Người ta tin rằng Orchid tím sẽ thu hút may mắn trong khi Orchid trắng tượng trưng cho sự thanh thản và bình yên. Đối với người Aztec, Orchid là biểu tượng của sức mạnh và quyền lực, họ sẽ trộn Vanilla Orchids và ca cao để tạo ra một loại thuốc được cho là tăng cường sức mạnh và lòng dũng cảm trong chiến đấu. Người Hawaii gắn Orchid với lòng tốt, tình cảm và lòng trắc ẩn. Ở Thái Lan, Orchid tượng trưng cho sự sang trọng, danh dự và phẩm giá. Và vì là loài cây có vô số giống lai, Orchid đã được chọn làm quốc hoa của Singapore, phản ánh di sản đa văn hóa của quốc gia này.

    Sự kết hợp giữa quyến rũ nhưng lại thanh lịch, không gây nhàm chán khiến Orchid sở hữu vẻ đẹp gần như thôi miên. Chính vì vậy, dưới thời Nữ hoàng Victoria, Orchid đơn giản là “Refined beauty - Vẻ đẹp tinh tế”.





Nguồn: Tổng hợp



Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

ORANGE BLOSSOMS - HOA CAM

   

ORANGE BLOSSOM

(HOA CAM)

 

 


    Ngày nay, chúng ta khó lòng bắt gặp Orange Blossoms được bày bán trong các cửa hàng hoa. Cũng chính bởi vậy mà ý nghĩa của Orange Blossoms ít khi được tìm thấy trên các trang web thông dụng. Khi nói về  hoa của cô dâu trong ngày cưới, người ta hay liên tưởng đến hoa Hồng trắng, hay cao cấp hơn là Linh Lan. Ít ai biết rằng thủa xa xưa, vào thời Nữ hoàng Victoria, Orange Blossoms mới là biểu tượng được ưa chuộng để tô điểm cho cô dâu trong ngày cưới. Khi Nữ hoàng Victoria kết hôn với Albert vào năm 1840, hoa cưới của bà rất khiêm tốn, chỉ gồm một vòng hoa cam đơn giản để cố định tấm mạng che mặt bằng ren. Vào ngày kỷ niệm 5 năm của họ, Albert đã tặng bà một chiếc vương miện Orange Blossoms, với những cánh hoa bằng sứ và nhị hoa bằng vàng.

    Truyền thống này được cho là bắt đầu từ sau cuộc Thập tự chinh, người ta đã quan sát thấy các cô dâu người Moor đeo vòng Orange Blossoms, và đã áp dụng tập tục này khi họ quay về châu Âu. Trào lưu này mạnh mẽ đến mức, không cô dâu nào cảm thấy an toàn và thực sự đã kết hôn nếu cô ấy không đeo Orange Blossoms dưới một hình thức nào đó. Và khi một chàng trai trẻ tuyên bố rằng anh ta sẽ hái Orange Blossoms, điều đó có nghĩa là anh ta sắp sửa từ bỏ tình trạng độc thân của mình

    Màu trắng không tì vết của những bông hoa nói lên tính cách trong sáng của người phụ nữ. Vẻ đẹp giản dị của hình dáng hoa tượng trưng cho hi vọng về một tương lai hạnh phúc. Và quả tượng trưng cho những đứa con mà cuộc hôn nhân sẽ mang lại. Và nếu ai đó tặng cho bạn một bông Orange Blossom: Your purity equals your loveliness - Sự trong sáng của em cũng như sự đáng yêu của em vậy. 







Nguồn: Tổng hợp

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

NASTURTIUM - SEN CẠN


 NASTURTIUM

(SEN CẠN)




    Dễ thấy tên tiếng Việt của Nasturtium được đặt do hình dạng lá tương tự lá sen nhưng lại mọc trên cạn. Còn tên tiếng Anh của Nasturtium có nguồn gốc từ tên Latin “Nasus Tortus”, nôm na là mũi xoắn vì mùi hăng và cay nồng của nó sẽ khiến bạn phải nhăn mũi. Tên khoa học Tropaeolum xuất phát từ tiếng Hy Lạp Tropaion, nghĩa là chiến lợi phẩm, do những chiếc lá gợi nhớ hình ảnh cái khiên và hoa thì như những chiếc mũ sắt dính máu của kẻ thù trong các trận đấu.

    Nasturtium ngày nay có nguồn gốc từ hai dòng tự nhiên tại Peru. Các nhà truyền giáo ghi lại rằng người Inca sử dụng Nasturtium trong món salad và làm thuốc trị cảm, ho cũng như cầm máu những vết trầy da nhẹ. Cuối thế kỷ 15, những người Tây Ban Nha đi chinh phạt đã mang chúng về nước, sau đó được những nhà thảo dược Tây Ban Nha và Hà Lan nhân giống, nhanh chóng phổ biến loài cây này tại châu Âu. Đầu thế kỷ 16, cây Nasturtium đầu tiên đã bén rễ trên đất Anh, được gọi với cái tên Blood flower of Peru - Hoa máu của Peru. Và đến khi vua Louis XIV trồng chúng trong các luống hoa của cung điện Pháp, Nasturtium chính thức trở nên nổi tiếng.  Sang thế kỷ 19, những dòng khác nhau của Nasturtium được lai tạo, cho đến nay đã lên đến 87 dòng. Vào thời Nữ hoàng Victoria, Nasturtium được biết đến với khả năng ngăn ngừa bệnh Scorbut (bệnh do thiếu hụt Vitamin C), đồng thời hạt của Nasturtium khô xay cũng được sử dụng thay thế cho tiêu đen khi đó đang rất khan hiếm.

    Loài hoa này đơn giản là không thể chờ đợi. Một khi đã được hấp thụ sức nóng của mặt trời và được tưới bởi vài cơn mưa nhỏ, nó liền nhanh chóng bao phủ mặt đất bằng những bông hoa rực rỡ ấm áp được ôm trong những chiếc lá tròn. Nó sẽ mọc ở mọi nơi, chẳng cần suy nghĩ về ngày mai, khi cái lạnh của mùa thu sẽ gặm nhấm dần những cánh hoa mỏng manh. Nó chẳng nghĩ ngợi về bất cứ điều gì. Chính vì vậy, Nasturtium được đại diện cho Impetuous love - Tình yêu bồng bột.









Nguồn: Tổng hợp